Ác ti sô

Ác ti sô
ác ti sô

Ác ti sô có tên khoa học là Cynara scolymus L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

1. Đặc điểm thực vật

Cây thảo lớn, sống hai năm hoặc lâu năm, cao 1 – 1.2m, có thể đến 2m. Thân ngắn, thẳng và cứng, có khía dọc, phủ lông trắng như bông.

Lá to, dài, mọc so le, phiến lá xẻ thùy sâu và có răng không đều, mặt trên xanh lục, mặt có lông trắng, cuống lá to và ngắn.

Cụm hoa to mọc ở ngọn thân thành đầu màu đỏ tím hoặc tím lơ nhạt; lá bắc ngoài của cụm hoa rộng, dày và nhọn, đế cụm hoa, phủ đầy lông tơ, mang toàn hoa hình ống.

Quả nhẵn bón, màu nâu sẫm, có mào lông trắng.

Cây ác ti sô

2. Thành phần hóa học

Lá ác ti sô chứa:

– Acid hữu cơ bao gồm:

  • Acid phenol: Cynarin (acid 1 – 3 dicafeyl quinic) và các sản phẩm thủy phân (acid cafeic, acid clorogenic, acid neo clorogenic).
  • Acid alcol: acid hydroxymethylacrilic, acid malic, acid latic, acid fumaric…
  • Acid khác: acid succinic.

– Hợp chất flavonoid (dẫn chất của luteolin) bao gồm cynarosid (luteolin – 7 – D – glucopyrano – sid), scolymosid (luteolin – 7 – rutinosid) và cynarotriosid (luteolin – 7 – rutinosid – 3’ – glucosid).

– Thành phần khác: Ác ti sô còn chứa các enzyme, nhiều hợp chất vô cơ, polyphenol, flavonoid, cynarin.

3. Tác dụng dược lý và công dụng

Tác dụng dược lý

  • Dung dịch ác ti sô tiêm tĩnh mạch gây tăng mạnh lượng mật bài tiết.
  • Ác ti sô cho uống và tiêm đều có tác dụng làm tăng lượng nước tiểu và lượng ure trong nước tiểu, làm giảm nồng độ cholesterol máu và ure máu. Tuy nhiên, lúc mới uống thì có thể u rê máu sẽ tăng lên.
  • Ác ti sô không gây độc.

Công dụng

Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của bệnh nhân đái tháo đường vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần carbon hydrat gồm phần lớn là inulin.

– Lá ác ti sô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.

– Ngoài việc dùng đế hoa và lá bắc để ăn, ác ti sô còn được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, thông mật chữa các bệnh suy gan, thận, viêm thận cấp và mạn, sưng xương khớp. Thuốc có tác dụng nhuận tràng và lọc máu nhẹ đối với trẻ em. Dùng dưới dạng lá tươi hoặc khô, đem sắc (5 – 10%), hoặc nấu cao lỏng với liều 2 – 10g lá khô một ngày.

Ngoài ra, ở Việt Nam còn có nhiều cây thuốc và vị dược liệu quý khác như: Quế, vàng đắng, dây thìa canh, lược vàng…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*