Thiên Môn Chùm

Thiên Môn Chùm

Sản phẩm có dạng tươi và khô

Quý khách sỉ hoặc số lượng lớn vui lòng liên hệ để dược giá tốt

 

  • Đau bụng;
  • Bệnh tiêu chảy;
  • Viêm;
  • Cảm giác nóng đốt;
  • Mồ hôi quá nhiều;
  • Suy nhược thần kinh;
  • Ho;
  • Viêm khí quản;
  • Bệnh ngoài da;
  • Táo bón;
  • Ung thư gan;
  • Loét dạ dày;
  • Kích thích tuyến vú tiết sữa.

Thiên Môn Chùm

SKĐS – Thiên Môn Chùm còn được gọi là Shatavari, có nghĩa là “người sở hữu một trăm người chồng” để ngụ ý rằng nó có tác dụng tăng cường sức sống và khả năng sinh sản cho người phụ nữ.

Trong Ayurveda – một hệ thống y học Hindu truyền thống, Thiên Môn Chùm được gọi là “Nữ hoàng của các loại thảo mộc”, bởi vì nó thúc đẩy tình yêu và lòng sùng kính (1. IJPBA, Kỳ 2, Số 3, 2011, Trang 855).

Thiên Môn Chùm có tên khoa học là Asparagus racemosus Willd, thuộc họ Măng tây. Loại cây này còn được gọi là Satmuli (trong tiếng Bengal) và Shatavari (trong tiếng Hindi và tiếng Phạn).

Thiên Môn Chùm có thể được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới cho đến vùng có độ cao trên 1.500 m của Ấn Độ. Cây thuộc dạng cây bụi, bên dưới mang rất nhiều rễ củ mọng nước (2. WJPPS, Kỳ 2, Số 5, 2016, Trang 1105).

Thiên môn chùm món quà trời ban
Thiên môn chùm món quà trời ban

Thiên Môn Chùm sở hữu một loạt các thành phần như steroid saponin (được gọi là shatvarins), cyclic hydrocarbon-Racemosol, sitosterol, flavonoid cùng nhiều khoáng chất khác (1. IJPBA, Kỳ 2, Số 3, 2011, Trang 856).

Công dụng của Thiên Môn Chùm chính là đến từ những thành phần hóa học này.

Thiên Môn Chùm giúp cân bằng nội tiết tố

Thiên Môn Chùm có chứa phytoestrogen, nó thực hiện chức năng bằng cách liên kết trực tiếp với thu thể estrogen mà không làm tăng nồng độ estrogen nội sinh

Nguồn phytoestrogen này có thể làm giảm các triệu chứng bất lợi của thời kỳ mãn kinh như khô âm đạo, đổ mồ hôi đêm, mất ngủ, teo âm đạo (1. IJPBA, Kỳ 2, Số 3, 2011, Trang 858).

Tác dụng này cũng đã được thể hiện trong nghiên cứu của GS. Pradip Kinage và GS. Deepika Chaudhari (2. WJPPS, Kỳ 2, Số 5, 2016, Trang 1109).

Thiên Môn Chùm hỗ trợ sinh lý nữ

Phytpestrogen trong Thiên Môn Chùm ảnh hưởng đến sự điều hòa chu kỳ rụng trứng và động dục ở động vật có vú, thúc đẩy sự tăng trưởng sự khác biệt chức năng sinh lý của hệ sinh dục nữ, tuyến yên, tuyến vú và một số cơ quan khác (3. AYU, Tập 31, Kỳ 1, 2010).

Trong Ayurveda, Thiên Môn Chùm chứa saponin steroid và các isoflavone có thể làm tăng ham muốn tình dục, chữa viêm cơ quan sinh dục, làm ẩm các mô khô của vùng kín, trẻ hóa tử cung, hỗ trợ chữa huyết trắng và rong kinh.

Rễ của Thiên Môn Chùm là thuốc bổ có tác dụng kích thích tình dục mạnh mẽ. Vì thế nó mới được mệnh danh là “cây trăm chồng” – tức ngụ ý về tác dụng tăng khả năng sinh sản và sức sống cho người phụ nữ (1. IJPBA, Kỳ 2, Số 3, 2011, Trang 857).

Thiên môn chùm tốt cho sinh lý nữ
Thiên môn chùm tốt cho sinh lý nữ

Thiên Môn Chùm hỗ trợ điều trị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) và vô sinh

PCOS là bệnh nội tiết phổ biến nhất ở phụ nữ độ tuổi sinh sản. Bệnh làm thay đổi nồng độ lipid huyết thanh, gây chảy máu tử cung bất thường và vô sinh.

Trong quá trình điều trị kéo dài 6 tháng có sử dụng Thiên Môn Chùm, 85% hiếm muộn do PCOS đã được chữa khỏi thành công, trong đó 75% phụ nữ đã thụ thai (3. AYU, Tập 31, Kỳ 1, 2010).

Một nghiên cứu khác của TS. Sana Fatima Majeedi, Ismath Shameem và Mariyam Roqaiya cũng cho thấy Thiên Môn Chùm có hiệu quả trong kích thích tăng trưởng nang trứng và rụng trứng (4. IJRCOG, Tập 5, Kỳ 2, Tháng 2 năm 2016).

Giúp kháng khuẩn

Chiết xuất methanol thô từ rễ Thiên Môn Chùm có khả năng chống lại nấm Candida cũng như nhiều vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn Gram dương khác do nó chứa thành phần glycosides, steroid saponin và flavonoid.

Hỗ trợ chống oxy hóa

Hàm lượng phenol lipophilic cao trong rễ Thiên Môn Chùm có thể làm tăng nồng độ SOD (một chất chống oxy hóa), chống oxy hóa lipid, oxy hóa protein và sự cạn kiệt của các enzyme chống oxy hóa.

Hỗ trợ giảm stress

Thiên Môn Chùm là một loại thuốc bổ thần kinh nổi tiếng trong hệ thống y học Ayurvedic bởi nó có thể chống oxy hóa và giảm bớt tổn thương oxy hóa do các gốc tự do gây ra cho hệ thần kinh (3. AYU, Tập 31, Kỳ 1, 2010).

Thiên Môn Chùm tốt cho xương khớp

Nghiên cứu của Khoa Dược, Trường Y Dược H. S. K., Bagalkot-Karnataka, Ấn Độ về Thiên Môn Chùm cho thấy nó có thể cải thiện các thông số sinh học như độ cứng của đốt sống thắt lưng số 4, chiều dài và trọng lượng của xương đùi. (5. The Open Natural Products Journal, Kỳ 2, Trang 19).

An toàn và có thể sử dụng lâu dài

Trong Ayurveda, Thiên Môn Chùm đã được mô tả là hoàn toàn an toàn để sử dụng lâu dài, ngay cả với bà mẹ đang trong thời gian mang thai và cho con bú.

Nghiên cứu về độc tính của Thiên Môn Chùm cho thấy với liều cao 3200mg/kg không gây tử vong, việc sử dụng lâu dài các chiết xuất từ rễ Thiên Môn Chùm không gây ra bất kỳ độc tính nào ở động vật (3. Taylor and Francis Online, Tập 30, Kỳ 17, 2016).

Thiên Môn Chùm Sở hữu nhiều công dụng đáng kinh ngạc, thế nhưng người bệnh không nên tuỳ tiện sử dụng thảo dược này một cách bừa bãi. Thay vào đó, chúng ta có thể lựa chọn những bài thuốc, sản phẩm có chiết xuất từ Thiên Môn Chùm để vừa nâng cao sức khoẻ, vừa đảm bảo an toàn.

Dược sĩ Vũ Thị Hằng Nga

Tài liệu tham khảo

1. https://bom.to/eKzvX

2. https://bom.to/fZQ5g

3. https://bom.to/2NK4U

4. https://bom.to/Rrin9

5. https://bom.to/3aZV8

 

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính vị:

+ Vị đắng, tính bình (Bản Kinh).

+ Vị ngọt, tính rất hàn, không độc (Biệt Lục).

+ Vị ngọt, đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy kinh:

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế, túc Thiếu âm Thận (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Phế, thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tác dụng

+ Bảo định Phế khí, khu hàn nhiệt, dưỡng cơ bì, ích khí lực, lợi tiểu tiện (Biệt Lục).

+ Thông Thận khí, trừ nhiệt, chỉ tiêu khát, khử nhiệt trúng phong (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trấn Tâm, nhuận ngũ tạng, ích bì phu, bổ ngũ lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

thiên môn chùm tốt cho sinh lý nữ
thiên môn chùm

Chủ trị:

+ Trị hư lao, người gìa suy nhược, gầy ốm, âm nuy, điếc, mắt mờ (Thiên Kim phương).

+ Trị phế khí ho nghịch, suyễn, phế nuy sinh ra nôn ra mủ, ghẻ nước (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trị ho lao, lao phổi, ho ra máu, khát nước do bệnh ở thượng tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Liều dùng: Dùng dạng sắc 6-12g

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc thiên môn

Tư âm, dưỡng huyết, ôn bổ hạ nguyên:

 

Thiên môn bỏ lõi, Sinh địa đều 80g. cho vào bình bằng gỗ cây Liễu, cho rượu vào rửa. Chưng chín rồi phơi 9 lần, đến lúc thật khô. Thêm Nhân sâm 40g, tán bột. Lấy 9 quả Táo tầu, bỏ hột, gĩa nát, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên, với rượu nóng, trước bữa ăn, ngày 3 lần (Tam Tài Hoàn – Hoạt Pháp Cơ Yếu).

Trị cơ thể đau nhức do hư lao:

Thiên môn, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa với rượu (Thiên Kim phương).

Làm cho nhan sắc xinh tươi:

Thiên môn, Thục địa, Hồ ma nhân tán nhuyễn trộn với mật ong, làm thành viên, to bằng hạt Long nhãn. Mỗi lần uống 20 viên với nước nóng (Trửu Hậu phương).

Trị phế nuy, ho, khạc nhiều đờm, trong tim nóng, miệng khô, khát nhiều:

Thiên môn để sống, gĩa vắt lấy nước cốt chừng 7 chén, rượu 7 chén, Mạch nha 1 chén, Tử uyển 160g. cho vào bình bằng đồng hoặc nồi bằng sành, nấu đặc thành cao hoặc làm thành viên. Mỗi lần uống to bằng qủa Táo, ngày 3 lần (Trửu Hậu phườn).

Trị Tiêu khát

Thiên môn, Mạch môn, Ngũ vị tử, nấu đặc thành cao, thêm ít Mật ong để dùng dần (Giản Tiện phương).

Trị âm hư hỏa vượng, có đờm mà không dùng được thuốc táo:

Thiên môn 1 cân, rử nước, bỏ lõi, lấy nguyên nhục khoảng 480g. cho vào cối đá giã nát. Lấy Ngũ vị tử, rửa sơ qua, bỏ hột, chỉ lấy thịt 160g. phơi khô (đừng cho vào lửa). Cả hai thức cùng nghiền nát, trộn với hồ làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 20 viên với nước trà nóng, ngày 3 lần (Giản Tiện phương).

Trị phế nuy, hư lao, phong nhiệt, trị chứng nóng, khát:

Thiên môn, bỏ vỏ, bỏ lõi, nấu chín, ăn. hoặc phơi khô, tán bột, luyện với mật làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 20 viên với nước trà. Cũng có thể nấu lấy nước để rửa mặt (Thực Liệu Bản Thảo).

Trị phong, điên, mỗi khi lên cơn thì nôn mửa, tai ù như ve kêu, đau lan xuống cạnh sườn:

Thiên môn, bỏ lõi, phơi khô, giã nát. Mỗi lần dùng 1 thìa với rượu, ngày 3 lần (Ngoại Đài Bí Yếu).

Trị phụ nữ bị cốt chưng, trong xương nóng, buồn phiền, bứt rứt, mồ hôi trộm, miệng khô, khát mà không uống được nhiều, suyễn:

Thiên môn, Thanh hao, Miết giáp, Mạch môn, Sài hồ, Ngưu tất, Bạch thược, Địa cốt bì, Ngũ vị tử. Lượng bằng nhau, sắc uống (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

Trị lỡ miệng lâu ngày không khỏi:

Thiên môn (bỏ lõi), Mạch môn (bỏ lõi), Huyền sâm. Lượng bằng nhau, tán bột, trộn mật làm thành viên, to bằng hạt Long nhãn. Mỗi lần ngậm 1 viên [Bài này do nhà sư Liêu Sở truyền cho] (Ngoại Khoa Tinh Nghĩa).

Trị thiên trụy [sán khí]:

Thiên môn 12g, Ô mai 20g, nấu cho kỹ, uống (Hoạt Nhân Tâm Kính phương).

Trị da mặt nám đen:

Thiên môn, phơi khô, giã nát, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày, dùng thuốc viên pha với nước để rửa mặt. Dùng thuốc xát vào da cũng sẽ làm cho da dần dần tươi sáng, xinh tươi (Thánh Tế Tổng Lục).

Tham khảo:

Kiêng kỵ khi dùng thiên môn

+ Phế không có hư hỏa mà lại có hàn đàm hoặc đàm ẩm: cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Sở dĩ nói Thiên môn nhuận được 5 tạng, kỳ thực nó nhuận được Phế, thì sau đó 5 tạng cũng được nhuận lây, thế thì Thiên môn cũng là một vị thuốc tốt để nhuận Phế vậy (Hòa Hán Dược Khảo).

+ Thiên môn bẩm thụ được khí sơ sinh đại hàn từ buổi bắt đầu mà sinh ra, cho nên nó được khí thuần âm của đất. Vị của nó tuy hơi đắng nhưng lại ngọt mà hơi cay, chính khí của nó là đại hàn, không độc, cần được nhiều chất ngọt hơn vì vị của nó hậu hơn khí, cho nên nó trừ được hư nhiệt của Phế và Thận (Cù Hy Ung).

+ Thiên môn nhuận táo, giúp ích châ phần âm, thanh được Phế kim, giáng được hỏa tà cm được hỏa tà (Bản Thảo Cương Mục).

+ Mạch môn và Thiên môn đều phải bỏ lõi nhưng lấy nước mà sấp dần cho mềm thôi, không nên ngâm hẳn vào trong nước, mất hết tân dịch của nó đi. Một khi khí vị đã hết, dùng vào thuốc không thấy công hiệu lại cho rằng tại thuốc, sao không biết rằng tại mình làm mất hất chất tốt của thuốc đi rồi thì làm sao mà có hiệu quả (Khấu Tông Thích).

+ Tính của Thiên môn trị được ho, khí suyễn, suyễn do phế nuy, hoặc phế ung, nôn ra mủ máu. Tính của nó trừ được nhiệt, phong, trị được ghẻ lở, dùng nó phải uống nhiều, uống lâu, nấu chín mà ăn, làm cho người ta béo tốt, xinh tươi, trắng trẻo, trừ được nội tích, các loại khí nóng(Chân Quyền).

+ Sợ cá Chắm, cá Chầy, cá Chép

+ Thiên môn có tác dụng thanh kim, giáng hỏa, ích cho Thận, cho nên thông được khí của Thận, lại tư bổ cho Thận. Chủ của 5 thứ dịch, dịch khô ráo thọnnng lại thành đờm, được thuốc nhuận thì Phế không bị táo mà đờm tự nhiên tiêu. Vì Mạch môn thanh Tâm để bảo Phế, Thiên môn giúp thủy để nuôi Phế, một đằng cứu ở trên, một bên giúp ở dưới nhưng đều bảo hộ cho Phế, nhưng trên dưới, hàn nhiệt khác nhau. Cho nên, đờm của thấp tôr thì Bán hạ làm chủ, đờm do táo hỏa thì Mạch môn làm chủ. Nếu Tỳ Vị hư hán mà uống lâu, uống độc vị thì sẽ sinh ra chứng hoạt trường, tiêu chảy thành cố tật, không trị khỏi (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Thiên môn mập, nhiều chất béo, khí bạc, vị đậm, ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh táo, bổ ích tân dịch, dưỡng âm, sắc trắng đi vào Phế. Đối với người Phế hư, ho lâu ngày, ho lao, phổi khô, được vị thuốc nhu nhuận, tăng nhiều nước dịch, làm cho nước dịch bị khô chuyển thành mềm nhuận, đó là cách trị bệnh theo chính trị. Chỉ có trường hợp ho nhiều hoặc Phế có hỏa tà, phần âm chưa hao tổn, tân dịch chua bị tổn thương mà đã vội dùng Thiên môn thì chỉ làm cho tà khí bị giữ lại (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

Nguồn: https://suckhoedoisong.vn, https://tytxadongthanh.medinet.gov.vn

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và đã mua sản phẩm này mới có thể để lại đánh giá.