Hà thủ ô đỏ
Hà thủ ô đỏ có tên khoa học là Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson, họ Rau răm (Polygonaceae), hà thủ ô đỏ còn có tên gọi khác là dạ giao đằng, má ỏn, mần năng ổn (dân tộc Tày).
3.1. Đặc điểm thực vật
Hà thủ ô đỏ có dạng thân leo bằng thân quấn, sống lâu năm. Thân mềm, nhẵn, mọc xoắn vào nhau. Rễ phình thành củ, màu nâu đỏ, củ nguyên có hình giống củ khoai lang.
Lá mọc so le, hình mũi tên, gốc hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 5 – 8 cm, rộng 3 – 4 cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, cuống dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ, bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùy phân nhánh, dài hơn lá; hoa nhỏ nhiều màu trắng; nhị 8, thường dính vào gốc của bao hoa.

3.2. Thành phần hóa học
Hà thủ ô đỏ chứa 1.7% antraglucosid trong đó có crysophanol, emodin, rhein, 1.1% protid, 42.2% tinh bột, 3.1% lipid, 4.5% chất vô cơ, 26.4% chất tan trong nước.
Bên cạnh đó, thành phần của hà thủ ô đỏ còn thay đổi trong quá trình chế biến.
3.3. Tác dụng dược lý và công dụng
Tác dụng dược lý
Hà thủ ô đỏ có những tác dụng dược lý như: làm tăng đường máu ở thỏ, từ đó người ta đã lợi ích tác dụng này để chữa suy nhược thần kinh, giúp sinh huyết dịch, bổ tim và giúp cải thiện tuần hoàn chung. Ngoài ra, do chứa antraglucosid nên hà thủ ô đỏ có tác dụng kích thích tiêu hóa, cải thiện dinh dưỡng.
Hà thủ ô đỏ còn có tác dụng trên hệ nội tiết kiểu oestrogen, tác dụng kiểu progesteron nhẹ trên nội mạc tử cung, làm tăng cường trương lực cơ tử cung trong những thí nghiệm tử cung cô lập và ở nguyên vị trí, tăng tiết sữa và chống viêm.
Hà thủ ô đỏ có tác dụng chống co thắt phế quản, kéo dài thời gian an toàn trong mô hình khí dung histamin.
Hà thủ ô đỏ có tác dụng chống viêm trên các mô hình thực nghiệm, gây phù cấp tính và viêm mạn tính, gây rỉ dịch màng phổi bằng tinh dầu thông, gây viêm dị ứng và viêm da khớp bằng BCG.
Ngoài ra, hà thủ ô đỏ còn có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu, lợi tiểu, nhuận tràng, làm cho người bị bệnh bớt mệt mỏi, ăn ngon, ngủ được, đại tiểu tiện dễ dàng, giảm cảm giác bốc hỏa.
Dịch chiết methanol của hà thủ ô đỏ có tác dụng làm giảm nồng độ cholesterol máu ở chuột và các hợp chất stilben trong hà thủ ô có tác dụng dự phòng tổn thương gan trên chuột cho ăn các lipid oxy hóa như Resveratrol
Công dụng
Theo quan điểm của đông y, rễ củ hà thủ ô đỏ có vị đắng chát, hơi ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ gan, thận, bổ máu, ích tinh tủy, hòa khí huyết, mạnh gân xương, nhuận tràng.
Rễ hà thủ ô đỏ có tác dụng bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, táo bón, da mẩn ngứa không có mủ.
Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng. Ngày dùng 6 – 20g, dưới dạng thuốc sắc, rượu thuốc hoặc bột.
Chú ý: Người huyết áp thấp và đường huyết thấp không dùng hà thủ ô đỏ. Khi uống hà thủ ô đỏ cần kiêng ăn hành, tỏi, củ cải.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, hà thủ ô sống tươi và khô có tác dụng thông tiểu, giải độc, tiêu ung thũng, chữa táo bón cho phụ nữ sau khi đẻ hoặc người già, mụn nhọt, ghẻ lở, eczema, tràng nhạc.
Hà thủ ô chế có tác dụng bổ gan thận, ích tinh huyết, dùng làm thuốc an thần, bổ và tăng lực trong các chứng thân thể suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, nhức đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, còi xương.






